Xuân Lộc - Đồng Nai thắng địa

Núi Chứa Chan xưa thuộc huyện Phước Khánh, trấn Biên Hòa, nay nằm trong địa phận của năm xã: Xuân Trường, Xuân Thọ, Suối Cát, Xuân Hiệp và thị trấn Gia Ray thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

diadanhncc (2).jpg

Núi Chứa Chan nhìn từ thị trấn Gia Ray


 

Trong bài viết Nguồn gốc và ý nghĩa một số địa danh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Lê Trung Hoa lý giải về địa danh Chứa Chan như sau: Trong tiếng Chăm, từ chỉ núi là chơk và núi non là Chơk Chăn. Người Chăm cũng dùng một từ của tiếng Gia Rai và tiếng Êđê là Chư và gọi núi Chứa Chan là Chư Chan. Trong Sổ tay địa danh Việt Nam (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002), Đinh Xuân Vịnh ghi: “Chử Chân (hoặc Chứa Chan): còn gọi là núi Gia Ray. Có lẽ Chử Chân là biến thể của Chư Chan. Chan (hay Chăn, Chân) trong tiếng Chăm hiện đại đã mất nghĩa, có thể vốn là tên người, tên cây hoặc tên thú”. Theo suy luận của tác giả bài viết trên, địa danh Chứa Chan bắt nguồn từ từ tổ Chư Chan của tiếng Chăm theo con đường tạm gọi là “mượn âm”. Ngày nay, người Chơro ở xã Bảo Chánh (huyện Xuân Lộc) dưới chân núi vẫn gọi núi Chứa Chan là Gung Char với nghĩa là “núi Lớn”.


Ngoài ra, núi còn được nhân dân thường gọi tên là núi Gia Lào do trên núi có con suối lớn nước chảy quanh năm là suối Gia Lào (Dạ Lao).


diadanhncc (1).jpg

Núi Chứa Chan nhìn từ xã Suối Cát

 

Núi Chứa Chan là ngọn núi cao thứ hai ở Nam bộ (sau núi Bà Đen - Tây Ninh) với độ cao so với mực nước biển là 837m (chênh cao 600 - 700m), sườn dốc 30-350, đôi chỗ là vách dựng đứng. Núi được cấu tạo bởi các lớp đá xâm nhập phức hệ Cà Ná và nằm trong khối graniotit (thuộc khối Chứa Chan) xung quanh bị phủ bởi các đá phun trào bazan trẻ hơn. Khối có diện lộ hình dạng đẳng thước hơi kéo dài theo hướng Bắc Nam khoảng 5km, rộng 4km, chiếm diện tích gần 18km2. Đá tạo khối kiến trúc dạng poccia hoặc hình hạt thô không đều, ở rìa Tây Nam khối gặp tiếp xúc nóng của đá granit-boit với đá sắt bột kết điệp La Ngà tạo nên đới biến chất tiếp xúc sừng, thạch anh, xerixit, cocdietit và dập nát mạnh mẽ rộng tới hàng trăm mét. Ở rìa khối một số nơi gặp đá apogranitmica sáng màu hạt nhỏ, quặng hoá liên quan gặp các mạch thạch anh suafua ở phía Tây Nam. Chúng được hình thành trong các mạch cùng với thạch anh rộng vài centimet hoặc được ken dày trong khe nứt. Ở phía Tây Nam và Đông Bắc khối còn thấy vành phân tán trong sa vàng bậc II và thiếc bậc I, về không gian chúng gắn liền với thành phần tạo khối chung.


***Cảnh quan thiên nhiên***

Từ xa xưa, vùng đất Xuân Lộc nói chung, vùng rừng núi Chứa Chan nói riêng là vủng đệm giữa vương quốc Champa và Chân Lạp. Đây là vùng rừng nguyên sinh bạt ngàn, thâm u kỳ bí nên các dân tộc Việt, Chăm, Khmer ít khi đặt chân đến. Tuy vậy cũng có một số nhóm đồng bào Chơro, Stiêng từ Tây nguyên tràn xuống, họ sinh sống chủ yếu bằng cách săn bắn thú nhỏ và hái lượm trái cây rừng. Rồi nguồn lương thực đó cạn dần theo năm tháng, bà con phải làm rẫy trồng lúa, tỉa bắp gieo màu. Cuộc sống du canh du cư xoay quanh chân dãy Chứa Chan. Bên các khe suối xuất hiện các buôn sóc nằm ẩn mình dưới rừng già, le lói những đốm lửa trong đêm biểu hiện cho sự sống, sinh tồn của con người trong thời điểm nguyên sơ của vùng đất hoang dã. Thế nhưng khí hậu ở đây hết sức khắc nghiệt, cư dân bản địa ít sinh sôi, cứ mãi thưa thớt. Đến những năm đầu của thế kỷ XX, đồng bào ta ở Đông Nam bộ còn gọi đây là vùng “Ma Thiên Lãnh” đầy sơn lam chướng khí... Theo tài liệu của các nhà dân tộc học, có những trận dịch sốt rét vàng da đã làm chết cả hàng loạt buôn làng, họa hoằn lắm mới có vài người sống sót và họ lại dắt díu nhau đi đến những vùng đất khác để phát rẫy dựng chòi. Đói rét bệnh tật là những căn bệnh kinh niên dai dẳng kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác...


dlthangcanhncc (4).jpg
 
 
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí tập 5 có đoạn viết: “núi Chứa Chan ở cách huyện Phước Khánh 56 dặm về phía Bắc, thế núi cao chót vót, trông xuống khe Dạ Lao, chỗ giáp giới giữa hai huyện Phước Khánh và Phước Bình có nhiều mây song gỗ lạt. Lưng núi có động đá và giếng đá. Ngày trước có vị hoà thượng là Ngộ Chân dựng chùa hang ở đấy, sau khi vân du người địa phương tưởng nhớ nhà sư đắc đạo, bèn lấy đất đá lấp kín cửa động”.
 
dlthangcanhncc (6).jpg

Một góc khu Hầm Hinh

Sách Biên Hoà sử lược của tác giả Lương Văn Lựu lại viết “Hòn Chứa Chan cao 800 thước, gồm ba ngọn Lai Sơn, Nục Sơn, Liên Sơn còn trơ trơ như thiên thần khổng lồ đứng canh giữ đất địa Biên Hùng, trên đường thiết lộ thông suốt giang san. Trong chân núi, dưới khe Dạ Lao ngày đêm vẫn tuôn chảy luồn qua bao nhiêu gộp đá, lùm mây sa đằng, để trút nước xuống miền Long Khánh, tiếp nối ra sông Xích Lam nước lộn (Long Thành). Nham thạch, sau khi Ngộ Chân thiền sư hoá xác vân du, nay sửa thành Long Cốc, am tự và khu thạch tỉn cũng đã cạn rồi. Các trại sách bộ lạc thượng “Châu Mạ” vẫn còn chen chúc đìu hiu trên sườn non, dưới thung lũng, trong cảnh vắng lặng của rừng sâu, dưới ánh mặt trời và trăng sao muôn thuở”.

dlthangcanhncc (7).jpg
 

 Núi Chứa Chan là một trong những ngọn núi hiếm hoi ở Nam Bộ, một thắng cảnh hữu tình ở Đồng Nai. Núi có dáng hình vòng cung gồm ba ngọn đồi liên tiếp nhau giống hình bát úp. Thế núi cao chót vót, vào những sáng hồng núi rực rỡ xanh dưới ánh mặt trời, lúc chiều tà núi sừng sững âm u trên nền trời xám, khi mù sương tháng mười núi mờ ảo với những mảng mây trắng lững lờ men theo các nẻo. Người ta có thể nhìn thấy vóc dáng hùng vĩ của núi khi lưu thông trên Quốc lộ 1 (từ ngã 3 Dầu Giây đi Đà Lạt) nhưng núi đẹp nhất khi nhìn từ tòa hành chánh Long Khánh vào những ngày trời nắng.


Núi là nơi phát nguyên của nhiều con suối chảy ra bốn hướng: phía Đông có suối Gia Ui; phía Tây có suối Gia Miên; phía Nam có suối Gia Liêu; phía Bắc có suối Gia Lào nước mát quanh năm. Ở lưng chừng núi có nhiều “giếng tiên” (những vũng nước nhỏ trong hốc đá không bao giờ cạn).


image038.jpg

Mỏm đá nơi quan sát địch của Mật khu Hầm Hinh

 

Núi Chứa Chan còn nổi tiếng với hệ thống các bãi đá tự nhiên trùng trùng điệp điệp, ken lẫn nhau tạo thành những bức tường đá hùng vĩ và những hang động được tạo thành bởi sự sắp xếp của các khối đá to lớn. Trong lòng các hang động có các khe suối nhỏ nước chảy quanh năm nên từ xa xưa đã có nhiều vị thiền sư chọn làm nơi thiền định, đến nay vẫn còn dấu tích. Một hệ thống hang động còn chạy ngoằn ngoèo trong lòng núi đã trở thành con đường bí mật thoát hiểm của quân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Bãi đá tự nhiên còn hình thành nên một hệ thống công sự phòng thủ vững chắc, nơi trú ẩn của lực lượng cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.


dlthangcanhncc (3).jpg
 

*** Đa dạng sinh học***

Hệ thống động thực vật ở núi Chứa Chan phong phú và đa dạng với hơn 3.000 loại cây từ những loại gỗ quý như: Gõ, dáng hương, cẩm lai, bằng lăng… tới những loại phong lan, thảo dược. Xưa kia các loài thú quý quần tụ ở khu vực này rất đông đúc. Năm 1930 dân khai thác lâm sản đã từng thấy trong rừng phân voi ngập cả tấc, thấy cọp ngồi uống nước bên bờ suối Gia Liêu giữa ban ngày. Ngoài ra heo rừng, trâu rừng thường kéo bầy ra phá rẫy của dân. Người ta cũng thấy cả bầy sơn dương to như những con bê sống ở ven sườn núi Chứa Chan. Ngày nay các loài động vật trên đã không còn nhiều ở núi Chứa Chan, chỉ còn phổ biến những loại thú nhỏ như: trăn, chồn, thỏ, nhím, trút và các loài bò sát, chim, bướm…


image016.jpg
 Tắc kè núi Chứa Chan
 
 

Trong đợt khảo sát, nghiên cứu năm 2009, các nhà khoa học Đức, Mỹ và Việt Nam đã phát hiện thêm một loài Tắc kè mới ở vùng núi Chứa Chan với tên khoa học là Gekko russelltrainii Ngo. Mẫu chuẩn của loài chỉ thu được duy nhất ở vùng núi này do vậy đây có thể là loài đặc hữu ở Việt Nam, có kích thước trung bình, dài khoảng 82,9mm. Sau hơn 30 năm, đây là loài Tắc kè mới đầu tiên được mô tả ở Đồng Nai và được nhà nghiên cứu bò sát Ngô Văn Trí - Viện Sinh học nhiệt đới phát hiện. Cũng thời gian này, trong chuyến khảo sát động, thực vật ở vùng núi Chứa Chan, các thành viên của Diễn đàn Sinh vật rừng Việt Nam đã phát hiện ra một quần thể Chà vá chân đen có tên khoa học là Pygathrix nigripes. Kết quả cuộc khảo sát cho thấy, quần thể Chà vá chân đen này là khá lớn với số cá thể đếm được là 16 con - trong đó có 3 con non và một số Chà vá mẹ đang trong thời gian mang thai. Chà vá chân đen thường chỉ sinh trưởng trong các cánh rừng già ở độ cao từ 300m trở lên so với mực nước biển. Loài này thường sống thành từng nhóm khoảng từ 3-20 cá thế, trú ngụ trên các đỉnh núi hoặc sườn núi có độ dốc lớn. Chà vá chân đen là loài thú quý hiếm được sách đỏ thế giới xếp vào bậc E[1]. Ngoài ra khu vực núi Chứa Chan còn có nhiều loài bò sát, côn trùng quý hiếm như rắn hổ chúa, hổ lửa, rết, bò cạp xanh, mối chúa, nhện hùm…


Hệ thực vật ở núi Chứa Chan gần đây cũng có những nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực thảo dược. Nhiều loại cây thuốc quý được phát hiện như huyết rồng, đỗ trọng, ủ bình vôi, hà thủ ô… nên khu vực này từng được xem là “thiên đường” của thợ sơn tràng khai thác cây thuốc. Đặc biệt, quần thể nấm linh chi đen, một loại thức ăn - bài thuốc rất quý hiếm cũng được phát hiện tại núi Chứa Chan và được Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh phát triển thành đề tài nghiên cứu và ứng dụng nhân giống thành công tại khu vực này, mở ra nhiều hướng phát triển trong tương lai.


image021.jpg
 
 Trong một thời gian dài, một phần diện tích ở vùng núi Chứa Chan được nhân dân địa phương khai thác làm nương rẫy, canh tác các loài cây nông nghiệp. Những năm gần đây, với sự quan tâm của chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên cứu và khôi phục, bảo tồn nhiều loại cây gỗ quý, cây có giá trị kinh tế cao để trả lại màu xanh cho núi Chứa Chan và phát triển kinh tế nông thôn, điển hình là các chương trình trồng sao, dầu, cây dó bầu…  theo đó nhiều loài thú quí hiếm trong sách đỏ Việt Nam đã trở về và sinh sôi, một số loài thực vật quí hiếm cũng đã hồi sinh. Việc khám phá thêm các loài mới và loài quý hiếm trong sách đỏ ở khu vực núi Chứa Chan đã khẳng định thêm giá trị đa dạng sinh học ở miền Nam Việt Nam và cung cấp thêm dẫn liệu khoa học để làm căn cứ đề xuất khu vực núi này cần được sự quan tâm bảo tồn hơn nữa của tỉnh Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung.

image039.jpg
 

***Hệ thống di tích***

Chùa Bửu Quang:

Dân cư quanh vùng đều tin tưởng núi có một sự uy linh kỳ bí vì thế đường lên dốc núi dẫu cheo leo nhưng hàng tháng, vào các dịp rằm du khách nhộn nhịp rủ nhau hành hương đến viếng chùa ngắm cảnh. Núi cao, rừng rậm, dốc đá cheo leo, suối chảy róc rách… du khách đến đây là tìm về với sự tĩnh lặng và trong lành của thiên nhiên. Khách viếng chùa phải dừng nghỉ nhiều chặng mới lên đến đỉnh, dọc hai bên chùa là những hàng quán san sát nhau bày bán hàng hoá rất phong phú và giữ được vệ sinh sạch sẽ. Một điều thú vị dọc theo đường lên chùa có một cây đa một ngọn ba gốc cao khoảng 12m (người ta còn gọi là ông ba gốc) khách hành hương thường đến đây cúng bái.


image032.jpg
 

Xung quanh khu vực núi Chứa Chan từ thuở xưa đã có nhiều lớp tu hành đạo hạnh, có những vị sư trên đường vân du, thấy phong cảnh hữu tình đã lập cốc tu hành ở đây như Thiền sư Ngộ Chân. Thiền sư Ngộ Chân thuộc phái thiền Lâm Tế đến lập chùa Hang ở trên núi Chứa Chan, ở khe Gia Lào để tu hành, Sư gọi hang núi này là “Long Cốc” (hang Rồng) vì vậy Thiền sư Ngộ Chân còn được tôn gọi là “Hòa thượng Long Cốc”. Sách Đại Nam nhất thống chí kể về Thiền sư Ngộ Chân như sau: “Núi Chứa Chan ở phía Bắc huyện Phước Khánh 56 dặm, núi cao sừng sững giữa khu rừng rậm hoang vu. Gần chân núi có khe Gia Lào, giáp giới huyện Long Khánh và huyện Phước Bình. Núi có nhiều gỗ quí, có cả cây trầm hương, và nhiều loại dây mây tàu. Ở lưng chừng núi có thạch động và giếng đá, Thiền sư Ngộ Chân đến đó để tu. Sau khi Thiền sư Ngộ Chân vân du, thổ dân nhớ tưởng sư là người đắc đạo nên lấy đất đá lấp cửa động lại”.


Sau đó, Thiền sư Ngộ Chân đến núi Trấn Biên (hay núi Mô Xoài, nay gọi là núi Dinh, ở gần Bà Rịa) lập chùa Đức Vân để tu trì. Thiền sư Ngộ Chân tịch cốc (không ăn cơm), chỉ ăn rau quả, tu hành khổ hạnh tinh nghiêm, đạt được đạo quả nên giáo hóa được cả thú dữ (hùm beo, trăn rắn...), dùng Mật tông trị bệnh cho bá tánh. 


Chùa Gia Lào hiện hữu ngày nay có tên chữ là Bửu Quang tự, thường gọi là chùa Gia Lào do thiền sư Bửu Chơn khai sơn tự tạo vào đầu thế kỷ XX. Chùa lúc đầu chỉ là một cốc nhỏ nằm trong hang đá có hình dáng uốn cong như miệng một con rồng, bà con quanh vùng gọi đây là Hàm Rồng. Vào năm Thiệu Trị thứ 5 (năm Ất Tỵ 1845) có ba sư tăng là Hải Chánh, Bửu Thanh và Bửu Chơn từ Phú Yên vào Nam tìm chốn thâm sơn dựng chùa hành đạo. Các vị Hải Chánh, Bửu Thanh về Bà Rịa lập chùa Long Bàn. Riêng sư tăng Bửu Chơn đã tìm đến núi Chứa Chan ẩn dật tu hành và ngài đã viên tịch tại đây. Ngay trước hang đá lớn bây giờ còn tồn tại một ngôi tháp được xây bằng đất sét trộn đá gọi là Thiên Bửu Tháp. Bên cạnh đó là mộ phần của ngài gọi là tháp Tổ Bửu Chơn cùng nhiều tháp khác.


Năm 1941 cụ Nguyễn Văn Ngọ và cụ Sáu Cao là những nhà nho đồng thời là những nhà địa chất đã đến khảo sát núi Chứa Chan và tìm ra hang đá (khu chánh điện bây giờ). Khi tìm ra hang cụ Ngọ đã đưa sư tăng Thích Thiện Minh đến đây dựng am thờ để tu hành. Năm 1943 thầy Thích Thiện Minh về quê giao lại cho sư thầy Trương Văn Đó kế vị. Năm 1950 thầy Trương Văn Đó viên tịch, sư ông Trần Văn Cát kế vị trụ trì cùng thủ tạ Võ Văn Lắng. Từ đây hai thầy trò cùng một số đệ tử khác như Ni cô Nguyễn Thị Tư, Sư cô Nguyễn Thị Khoẻ, Vũ Thị Lo và nhiều bổn đạo tiến hành xây dựng chùa bằng bê tông cốt sắt. Ròng rã suốt 19 năm trời với sự cần mẫn, các vị sư tăng và phật tử đã đưa từng cân ximăng, từng cây sắt luồn rừng lội suối lên dựng chùa. Năm 1975 thầy Trần Văn Cát viên tịch, thầy Võ Văn Lắng[2] lên kế vị trụ trì cho đến nay.


Từ chân núi đi theo những bậc cấp chạy vòng theo triền núi, leo lên những dốc đá dựng đứng mới tới chùa. Chùa toạ lạc ở độ cao 660m nằm lưng chừng núi, lưng dựa vào vách núi, mặt chính quay về hướng Đông. Từ đây nhìn xuống chân núi là thung lũng xanh ngút ngàn cây, xa xa là cánh đồng với những ô ruộng, khoảnh vườn xanh tươi tựa như bàn cờ và thị trấn Gia Ray rực rỡ dưới ánh đèn vào ban đêm. Đường từ chân núi lên chùa với hàng ngàn bậc cấp bằng đất, bằng xi măng do phật tử góp công xây dựng, dọc đường đi người ta trồng những giàn dưa tây mát rượi và xum xuê trái. Qua khỏi cổng chùa đường lên chia làm hai hướng: một rẽ trái đi lên các tháp của những vị sư đã viên tịch, một đi thẳng lên đến chánh điện.


Chùa được kiến tạo dựa trên hình thể của thiên nhiên. Xây dạng mái vòm uốn cong bằng bê tông cốt sắt bên trên hang đá, mở rộng ra phía trước Hàm Rồng và được bảo vệ vững chắc bằng hệ thống trụ bê tông phía dưới. Toàn bộ cột, kèo, mái che của chùa đều làm bằng bê tông cốt sắt. Chùa cấu tạo gồm chánh điện xây nối tiếp với hang đá và được bày trí như sau: Bệ thờ ở gian trung tâm được xây bằng đá, xi măng (xây thành từng bậc) và bố trí thờ Di Đà Thích Ca Đản Sinh, Thích Ca nhập Niết Bàn, Phật Bà Quan Âm, Chuẩn Đề, Văn Thù, Phổ Hiền, Thế Chí. Hai bên tả hữu là khám thờ Tam Tạng và Phật Bà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Bao lam bày trí ở chánh điện bằng vải thêu nổi hình rồng phun ngọc châu. Ở hậu điện dọc hai bên hốc đá của Hàm Rồng là gian thờ Phật Đản sinh, gian thờ Quan Bình, Quan Công, Châu Xương và án thờ các vị sư trụ trì đã viên tịch (bài vị chữ Hán). Ở bên phải chánh điện theo bậc cấp đi lên  là gian thờ Phật Bà Quan Âm. Tượng Phật Bà Quan Âm làm bằng xi măng có cao khoảng 2m, quanh gian thờ trang trí bằng lọng và các bức trướng bằng vải thêu nổi hình rồng phun ngọc châu.Hành lang ngoài cửa chánh điện ở giữa thờ tượng Hộ Pháp, bên tả thờ Tiêu Diện, bên hữu thờ tượng Sơn Thần.


Hang đá nằm sâu bên trong lòng chánh điện, rộng khoảng 7m, cao khoảng 2m. Lòng hang sâu khoảng 6m có những bệ đá gập ghềnh. Bệ đá ở trung tâm khá bằng phẳng là bàn thờ Phật Di Lặc.

Ở cửa hang theo bậc cấp đi xuống là gian nhà dùng để tiếp khách. Dọc theo vách hang có một hốc đá nhỏ được tôn tạo làm chổ nghỉ cho sư thầy trụ trì. Hai nhà khách ở tả hữu chánh điện được xây bằng bê tông cốt thép nhô ra ngoài, mặt tiền chánh điện đối xứng nhau chia làm hai tầng là nơi phật tử đến viếng chùa nghỉ lại.


Nhà bếp nằm ở phía sau chánh điện luôn sẵn lương thực để khách hành hương tự nấu ăn. Chùa có những bể nước sử dụng quanh năm, nước được chuyển bằng hệ thống đường ống từ suối Gia Lào trên núi xuống, rất mát và sạch. Khách thập phương đến viếng chùa ai cũng muốn được rửa mặt và tắm ở đây. Đặc biệt suối Gia Lào có một nhánh nhỏ len lỏi qua các bãi đá sau chùa, trong có một loài tôm nhỏ nên thường được gọi là suối Tôm. Tương truyền, ai viếng cảnh chùa mà thành tâm thì sẽ bắt được một chú tôm nhỏ này đem về với ước nguyện những điều tốt đẹp nhất sẽ theo về.


Chùa Lâm Sơn:

Chùa có tên chữ là Lâm Sơn Tự, tên thường gọi là chủa Cô Ba. Năm 1955, thầy Lý Văn Phước là người ở Thành phố Hồ Chí Minh đến vùng núi Chứa Chan tìm nơi yên tĩnh để tu hành và khai sơn lập chùa. Chùa lúc đầu chỉ là một cái cốc nhỏ nằm trong hang đá. Năm 1959, chùa chính thức trở thành cơ sở tôn giáo tín ngưỡng thuộc sự quản lý của Ban Trị sự tỉnh Long Khánh.

Năm 1961, thầy cho xây dựng lại chùa với quy mô lớn hơn bằng các vật liệu gạch, xi măng, bê tông cốt thép. Chánh điện được mở rộng về phía Đông của hang đá. Năm 1970, thầy Lý Văn Phước viên tịch, sư cô Lý Thị Hường, pháp danh Ngọc Kiến, tên thường gọi là Cô Ba kế vị trụ trì. Cô đã vận động bà con Phật tử và các nhà hảo tâm tiếp tục công việc trùng tu chùa. Năm 1990 cho xây tháp tổ khai sơn (tháp mộ thầy Lý Văn Phước) bằng gạch, xây nhà nghỉ cho các sư tăng. Năm 2000, Cô Ba viên tịch, sư cô Phạm Thi Thanh, pháp danh Thích nữ Diệu Liên thọ giới tại chùa Long Thiền về trụ trì cho đến nay. Năm 2000, sư cô Diệu Liên cho xây tháp Cô Ba, năm 2001 xây dựng nhà bếp và năm 2003 cho xây dựng nhà khách tạo nên diện mạo như ngày nay.


Từ chân núi đi theo những bậc cấp bằng đá, hai bên là hai hàng me rợp bóng che mát con đường đưa du khách lên chùa vào cõi Phật. Chùa toạ lạc ở vị thế có phong cảnh hữu tình, nằm trên độ cao 250m, ở lưng chừng núi. Lưng chùa dựa vào vách núi, mặt Chánh điện quay về hướng Đông Nam đón gió lành mát mẻ. Từ chùa du khách có thể nhìn thấy toàn cảnh bức tranh thu nhỏ thị trấn Gia Ray và một số xã Xuân Tâm, Xuân Hiệp, Xuân Hưng, Suối Cát… của huyện Xuân Lộc. Phía xa xa là hồ Núi Le - một trong những cảnh đẹp của Đồng Nai và những cánh đồng, vườn ăn trái xanh tươi mơn mởn.

Chùa được tạo dựng dựa trên hình dáng vốn có của thiên nhiên ban tặng nên có một không gian rất đẹp. Chánh điện của chùa một phần là hang đá, phần mở rộng còn lại được xây bằng gạch, xi măng (kiểu nhà sàn). Chánh điện được bài trí như sau: Bàn thờ ở giữa được xây bằng gạch thờ tam thế Phật và các vị Bồ tát; bên hữu cũng là bàn được xây bằng gạch thờ Phật bà nghìn tay nghìn mắt; bên tả là hai tủ thờ bằng gỗ thờ Chuần đề, Bồ tát, Thiền sư Lý Văn Phước (người khai sơn lập chùa) và Cô Ba. Hang đá nằm gian bên phải Chánh điện rộng khoảng 5m sau khoảng 6m là nơi thờ Ngũ hành Nương nương, Quan công, Quan Bình, Châu Xương, Cô Hai…

Phía trước Chánh điện có xây dựng một khám thờ bằng xi măng thờ Phật Di Lặc. Từ khám thờ Phật Di Lặc bước lên những bậc đá bên phải là khám thờ Quan Âm, Thánh Mẫu và điện Tam thánh A Di đà. Phía bên phải đường lên Chánh điện là nhà nghỉ của các sư tăng trong chùa và nơi nghỉ chân cho các du khách ở xa đến viếng chùa ở lại qua đêm.

Trong khuôn viên chùa còn có nhiều vườn tượng diễn tả lại những truyền thuyết của nhà Phật. Đặc biệt, ở đây có một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn màu trắng dài 11m.

Nhà bếp nằm cách Chánh điện khoảng 50m về phía Đông Nam. Đây là nơi nấu ăn, sinh hoạt cho các Ni sư trong chùa và Phật tử hành hương đến viếng chùa.

Chùa Linh Sơn:

Chùa có tên chữ là Linh Sơn Tự, tên thường gọi là chùa Ông Ngộ do Hoà thượng Thích Hồng Nhạn quê ở Thủ Đức đến vùng núi Chứa Chan tìm nơi tu hành và khai sơn ra chùa vào năm 1952. Chùa lúc đầu chỉ là một cái am nhỏ nằm trong hang đá. Năm 1965, thầy cho xây dựng lại chùa với quy mô lớn hơn bằng các vật liệu gạch, xi măng, bê tông cốt thép. Chánh điện được xây dựng cách hang đá khoảng 150m về phía Tây nam. Còn hang đá là nơi thờ Ngũ hành nương nương, đại mẫu, Chúa xứ, các vị La hán, Tiêu Diện, Hộ Pháp… Năm 1968, Hoà thượng Thích Hồng Nhạn viên tịch, Hoà thượng Thích Hồng Anh kế vị trụ trì đến năm 1972 thì viên tịch; Hoà thượng Thích Nhật Thành kế vị trụ trì đến nay. Thầy đã vận động bà con Phật tử và các nhà hảo tâm tiệp tục công việc trùng tu chùa. Năm 1990 thầy cho xây tháp tổ khai sơn (Hoà thượng Thích Hồng Nhạn), tháp Hoà thượng Thích Hồng Anh bằng xi măng, gạch. Năm 1999, thầy cho xây dựng nhà bếp, nhà khách.

Theo lời kể của Hoà thượng Thích Nhật Thành hiện đang trụ trì thì trước kia, trong hang đá thờ Quan âm, Địa mẫu, các vị La Hán… có lối xuống hang động sâu và tương đối rộng. Từ cửa hang xuống một đoạn 40m, gặp hồ nước nhỏ có thể tắm được. Từ hồ nước này đi tiếp khoảng 3 giờ đồng hồ thì ra tới Ông Đồn. Trong hang này có các khe nước nhỏ chảy róc rách suốt ngày đêm. Tuy nhiên, miệng hang đá nay đã bị lấp sau sự cố có người bị vùi lấp xảy ra cách nay khoảng 15 năm.

Từ chân núi đi theo đường mòn vào rừng, hai bên là cây rừng che mát con đường; đặc biệt đoạn đường gần đến chùa hai bên rợp hoa sứ trắng xen lẫn mầu hồng như chào đón Phật tử và du khách hành hương lên chùa viếng Phật. Chùa có độ cao 450m, nằm lưng chừng núi. Toàn cảnh chùa rất đẹp, thơ mộng. Chánh điện của chùa được xây bằng gạch, quét vôi vàng. Mái Chánh điện được lợp bằng tôn giả ngói. Chánh điện được bài trí như sau: Hai bên cửa ra vào được bài trí tiêu diện, Hộ tam thế Phật; bậc dưới thờ Thích Ca Mâu Ni, Phật Đản sanh; hai bên tả hữu củng là bàn được xây dựng bằng gạch, xi măng; bên hữu thờ Phật bà nghìn tay nghìn mắt và Quan thế Âm bồ tát; bên tả thờ Chuần đế, Địa tạng. Gian phía sau của Chánh điện được bố trí ba bàn thờ được xây bằng gạch, xi măng. Bàn thờ ở giữa thờ Bồ đề đạt ma và hai vị bồ tát; bàn thờ bên tả thờ Địa tạng, bên hữu thờ Quan công.

Phía trước Chánh điện có tượng thờ Phật Di Lặc bằng xi măng. Từ khám thờ Phật Di Lặc bước xuống những bậc đá về hướng đông Chánh điện là nhà nghỉ của các sư tang trong chùa. Từ nhà nghỉ của các sư tăng xuống khoảng 50m là nơi nghỉ chân cho các du khách ở xa đến viếng chùa ở lại qua đêm. Phía sau nhà nghỉ của du khách là Nhà bếp; đây là nơi nấu ăn cho các Ni sư trong chùa và Phật tử hành hương đến viếng chùa.

Mật khu Hầm Hinh:


image034.jpg
 

Mật khu Hầm Hinh là địa điểm đóng quân của Ban chỉ huy quận quân sự 10, sau đó là quận đội Xuân Lộc trong khoảng thời gian từ năm 1946 đến cuối năm 1948.

Địa điểm Mật khu Hầm Hinh phân bố trên một khu đất ở triền chân núi Chứa Chan (khu vực phía Bắc) thuộc xã Xuân Trường, diện tích khoảng 500m2  có độ cao trung bình khoảng 40m so với chân núi, cách suối Gia Lào khoảng 10km về phía Đông, cách chùa Bửu Quang Khoảng 800m (theo đường chim bay) về hướng Đông Bắc, cách tỉnh lộ 766 khoảng 1400m về phía Đông.


Mật khu Hầm Hinh nguyên là một bãi đá tự nhiên gồm những tảng đá Granit xếp xen kẽ với nhau tạo thành một bức tường dày. Âm sâu bên trong là hang đá gồm những tảng đá lớn xếp chênh nhau tạo thành. Lòng hang sâu hun hút, khúc khuỷu với nhiều chỗ rộng hẹp cao thấp khác nhau tạo thuận lợi cho việc thoát hiểm khi cần.


image036.jpg
 
 Vị thế của Mật khu Hầm Hinh rất thuận lợi: rừng rậm có thể ém giấu quân; núi cao có thể quan sát địch ở phía dưới; hang sâu có thể ẩn nấp; bãi đá dày có thể tạo thành công sự chiến đấu khi chống càn… nên Ban chỉ huy quận quân sự 10 (Xuân Lộc) đã chọn đóng quân và cũng từ địa điểm này các đồng chí Đinh Quang Ân, Bùi Cát Vũ, Phạm Đình Công đã lập sở chỉ huy đánh giao thông đường sắt ở Trảng Táo, Gia Huynh, Bảo Chánh. Mật khu này cũng là nơi đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy đã lưu lại trên con đường từ Bắc vào Nam chỉ đạo kháng chiến. Hiện nay địa điểm này đã được các nhân chứng lịch sử định vị trên mặt bằng tổng thể.

Vườn trà Bảo Đại:


Núi Chứa Chan là một danh thắng nổi bật nên đã được vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam chọn để xây dựng một biệt thự cho mình thi thoảng tổ chức nghỉ ngơi, săn bắn. Ngôi biệt thự có cả một sân tennis phục vụ cho sở thích chơi “banh quần” của ông vua này. Do Bảo Đại thích uống chè nên đã cho trồng một vườn chè xung quanh ngôi biệt thự. Đến những năm 1970, quân đội Mỹ dựng một trạm rada quan sát ở đây, do nhu cầu vận chuyển nên đã xây dựng một sân bay dã chiến. Vì biệt thự và sân tennis của Bảo Đại là nơi bằng phẳng nhất trên đỉnh núi nên quân Mỹ đã phá ngôi biệt thự này làm sân bay. Hiện nay nền móng sân bay vẫn còn, rải rác một vài dấu tích kiến trúc ngôi biệt thự xưa. Riêng vườn trà vẫn còn hàng chục cây, trải qua hơn nửa thế kỷ nên đã thành những cây chè cổ thụ, người dân địa phương, thợ rừng vẫn còn hái lá uống thường xuyên.

Hệ thống nhà nghỉ, hồ nước trên đỉnh núi:

Trên đỉnh cao nhất của núi Chứa Chan về phía thị trấn Gia Ray, trước Cách mạng tháng Tám chính quyền địa phương đã cho đục một hồ nước lớn trong đá để dẫn tới nhà ga Gia Ray. Do đục từ một phiến đá nguyên khối nên hồ nước này rất trong và sạch, đến ngày nay vẫn còn sử dụng bình thường.

Trên đỉnh núi, một nhà nghỉ mát đã được thành lập cho toàn quyền Decoux và thống đốc Pages. Người ta kể lại hai giới chức này thường bắt dân phu cáng lên đỉnh núi nghỉ mát. Ngôi nhà này được xây dựng hoàn toàn bằng đá (đục ra từ hồ nước), diện tích khoảng 50m2 gồm 2 phòng. Tuy thiết kế đơn giản nhưng để xây dựng được ngôi nhà ở vị trí như thế vào thời điểm đó đòi hỏi một lượng tài lực rất đáng kể. Cho đến nay ngôi nhà vẫn được sử dụng, làm trạm thông tin liên lạc của quân đội.

Phong cảnh xung quanh ngôi nhà nghỉ mát trên đỉnh núi này rất nên thơ, hữu tình với những trảng cỏ lau rào rạt trong gió, quanh năm sương mờ bảng lảng vấn vít trên tay du khách, xa xa là hồ Núi Le, hồ Sông Ui xanh ngắt soi bóng mây trời và dòng sông La Ngà như một dải lụa bạc vắt ngang những cánh rừng nguyên sinh kỳ bí… tất cả hợp cùng núi Chứa Chan thành một bức tranh sông núi hùng vĩ làm đắm say lòng du khách. Ngay từ chế độ Việt Nam Cộng hòa, núi Chứa Chan đã được đưa vào chương trình gìn giữ đặc biệt. Năm 1970 công binh Hoa Kỳ xin sử dụng núi để khai thác làm đường nhưng chính quyền tỉnh khước từ vì coi núi là một thắng cảnh cần được bảo tồn. Năm 1972 một nhóm công chức trẻ thuộc chế độ Sài Gòn đã vận động cho một dự án lớn nhằm cải biến khu vực núi thành một thắng cảnh quốc gia nhưng công việc chưa được triển khai.

***Sinh hoạt văn hóa và lễ hội***

Hằng năm ở chùa Bửu Quang thường tổ chức những lễ chính: Thượng ngươn, Trung ngươn, Hạ ngươn và Giỗ tổ Khai sơn. Nhân dân ở địa phương và các tỉnh thành khác trong khu vực Nam bộ như Long An, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Bạc Liêu cho tới các địa phương ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương… đến viếng chùa lễ Phật rất đông.

Lễ Thượng Ngươn: Lễ diễn ra vào rằm tháng giêng âm lịch. Chùa tổ chức Lễ Thượng ngươn nhằm cầu an cho nhân dân, bá tánh. Nhân dân và Phật tử đến chùa đông đảo; họ cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình cả năm đều được như ý về mọi mặt như: tai qua nạn khỏi, gia đình ấm no hạnh phúc, công ăn việc làm được thuận buồm xuôi gió... 

Lễ Trung ngươn: Lễ diễn ra vào rằm tháng Bảy. Theo quan niệm của Phật giáo đây là ngày lễ Vu Lan Bồn. Vu Lan có nghĩa là tội treo ngược, những tội lỗi nặng nề do nghiệp ác của con người tạo ra lúc sống còn, thì đến lúc chết sẽ bị đọa đày như cảnh treo ngược vậy. Bồn có nghĩa là đồ dùng để đựng thực phẩm và lễ vật để dâng cúng, cầu xin sự hộ trì giải cứu cho những kẻ chịu đọa đày.

Truyền thuyết nhà Phật kể rằng, thuở Ngài Mục Kiền Liên vừa đắc Ðạo, liền nhớ đến công ơn sanh thành, nên dùng thần nhãn nhìn xa đến cảnh giới u minh để tìm mẹ mình là bà Thanh Ðề hiện bị đọa lạc nơi đâu? Khi Ngài Mục Kiền Liên trông thấy mẹ mình đang là ngạ quỷ trong hỏa ngục, hết sức đau thương, bèn vận thần thông đem cơm đến cho mẹ. Nhưng than ôi! Khi Bà Thanh Ðề nhìn thấy bát cơm vừa đưa tay ra cho nắm cơm vào miệng, cơm liền hóa lửa hồng đốt miệng, nên không ăn được. Mục Kiền Liên quá xót xa, vội trở về đem việc đó bày tỏ với Phật Tổ, cầu xin Phật Tổ dạy phương giải cứu. Phật Tổ bảo rằng: "Mẹ ngươi đã tạo nhiều nghiệp dữ quá nặng nề, cho nên một người dù có phép lực to lớn đến đâu cũng không thể cứu được. Nay ngày rằm tháng Bảy là ngày chúng tăng mãn hạ, ngươi dùng lễ Vu Lan Bồn để cầu xin Thánh chúng cùng nhau hiệp sức mà cầu cho, thì may mới giải thoát được."

Ngài Mục Kiền Liên vâng theo lời chỉ dẫn ấy, kết quả đã giải cứu được mẹ mình thoát ra hỏa ngục. Nhân đó, ngày Rằm tháng Bảy được xem là ngày lễ báo hiếu của tất cả những ai muốn báo hiếu, siêu độ cho ông bà cha mẹ đã quá vãng cũng theo cách này. Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.

 Có thể nói hệ tư tưởng của Phật giáo đã đồng hành trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc ta, góp phần to lớn vào việc hình thành nền văn hóa truyền thống của dân tộc, lấy đạo lý nhân ái và triết lý nhân quả để hướng mọi người sống lương thiện hơn. Hàng năm, cứ đến vào rằm tháng bảy âm lịch, Phật tử và nhân dân trong lòng dâng lên cảm xúc vô cùng thiêng liêng của ngày Vu Lan báo hiếu. Báo hiếu là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của người dân Việt, thể hiện lòng thành kính với các đấng sinh thành, dưỡng dục. Lễ Vu Lan tưởng nhớ, đền đáp “tứ đức” trong đời sống đối với mỗi người:

- Công ơn sinh thành, dưỡng dục đối với cha mẹ.

- Công ơn tình thầy, nghĩa bạn và cộng đồng xã hội.

- Công ơn che chở của Tổ Quốc và sự cống hiến của các bậc Tiền nhân, anh hung liệt sĩ.

- Công ơn Tam Bảo đã khai sáng chân lý cho con người đề cuộc sống có giá trị chân thiện mỹ.

Lễ Vu lan ở chùa Bửu Quang, Lâm Sơn, Linh Sơn cũng như tại nhiều chùa khác có nghi thức tương tự nhau.

Đặc biệt vào ngày Lễ Vu lan, những người không may mắn không còn cha mẹ nữa gắn lên ngực áo bông hồng màu trắng, những người chỉ còn cha hoặc mẹ gắn lên ngực áo bông hồng màu hồng, những người hạnh phúc còn cha mẹ sẽ được cài một bồng hồng đỏ thắm, đầy tự hào như một lời nhắc nhở hãy sống thật có hiếu để đền đáp công ơn các bậc sinh thành.

Lễ Vu Lan tại ba chùa được xem như một ngày hội của vùng núi Chứa Chan nói riêng và Xuân Lộc nói chung. Lễ hội thu hút hàng ngàn Phật tử và nhân dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương kính Phật, cầu mong cho cha mẹ, người than và chúng sanh được an lạc, độ trì, siêu thoát. Vào dịp này, nhiều người phát tâm cúng dường tiền, gạo… để nhà chùa làm từ thiện, tu bổ lại chùa, đây là một nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Lễ Hạ ngươn: Lễ diễn ra vào rằm tháng mười. Lễ hạ ngươn thu hút đông đảo Phật tử và nhân dân đến dâng hương kính Phật, tạ ơn Trời, Phật đã tạo mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, người dân khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc...

Lễ giỗ tổ khai sơn: Ngoài ba lễ trên, ba chùa còn tổ chức giỗ tổ khai sơn vào ngày các vị hòa thượng khai sơn lập chùa viên tịch như chùa Bửu Quang (24 tháng 10 âm lịch), chùa Lâm Sơn (rằm tháng 7 âm lịch), chùa Linh Sơn (11 tháng 3 âm lịch).

***Giá trị quần thể danh thắng núi Chứa Chan***

Núi Chứa Chan là một thắng cảnh hữu tình tiêu biểu, có thể nói là độc nhất vô nhị ở Đồng Nai. Vẻ đẹp của núi là sự tạo dáng của thiên nhiên kết hợp với bàn tay sáng tạo khéo léo của con người xây dựng. Sự hài hoà của thắng cảnh, đặc biệt của các ngôi chùa Bửu Quang, Linh Sơn, Lâm Sơn tuy không có những nét điêu khắc độc đáo, những kiến trúc tinh xảo nhưng nhìn tổng thể ngôi chùa toát lên vẻ thâm nghiêm kỳ vĩ, một di tích thiên tạo hiếm có ở Đông Nam Bộ. Cảnh quan thiên nhiên của di tích núi Chứa Chan hấp dẫn với nhiều dòng suối quanh năm tươi mát, nước chảy không bao giờ cạn; các cánh rừng với nhiều loại gỗ quý; hệ thống hang động, bãi đá kỳ vĩ kết hợp với những di tích do con người tạo nên như các ngôi chùa cổ, nhà nghỉ mát của toàn quyền Pháp, vườn trà của vua Bảo Đại… tạo thành một quần thể thắng cảnh độc đáo ở Nam bộ.

Núi Chứa Chan là nơi bảo tồn đa dạng sinh học đặc hữu của vùng Đông Nam bộ với nhiều loài thú quý hiếm trong sách đỏ, nhiều loài đặc hữu địa phương và nhiều loại động thực vật có giá trị kinh tế cao.

Núi Chứa Chan là căn cứ địa cách mạng của quân và dân tỉnh Biên Hòa, huyện Xuân Lộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ căn cứ này, quân ta đã xuất kích đánh nhiều trận đánh nổi tiếng, thu được nhiều thắng lợi to lớn, góp phần cùng với quân và dân cả nước thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng XHCN. Trên đường vào Nam tháng 5/1947, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư Xứ ủy Nam bộ đã dừng chân và ở lại Mật khu Hầm Hinh (căn cứ núi Chứa Chan) thăm hỏi, động viên đồng bào, chiến sĩ huyện Xuân Lộc và chỉ đạo kháng chiến. Tình cảm và những ý kiến quý báu của đồng chí Lê Duẩn luôn khắc sâu trong tâm trí chiến sĩ và nhân dân huyện Xuân Lộc nói chung.

Ngoài những giá trị to lớn về thiên nhiên và lịch sử cách mạng, trong quần thể danh thắng Chứa Chan cỏn có nhiều công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo lâu đời, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc cùng với các lễ hội truyền thống thu hút hàng vạn du khách đến tham dự mỗi năm. Núi Chứa Chan là nơi hội tụ của nhiều thành phần di tích, nhiều sắc thái văn hóa. Đặc biệt đây là nơi sinh sống lâu đời của dân tộc bản địa Chơro, còn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống, là thế mạnh cho việc phát triển du lịch thám hiểm thiên nhiên, tìm hiểu văn hóa lịch sử…

Bên cạnh đó, danh thắng Núi Chứa Chan là một bảo tàng thiên nhiên độc đáo, lưu giữ nhiều giá trị địa chất, thổ nhưỡng, đa dạng sinh học… phục vụ công tác nghiên cứu, khai thác các tiềm năng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước. Là địa điểm nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, dân tộc học, khảo cổ học, nhân học… Đồng thời là địa chỉ về nguồn quan trọng, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân địa phương.



[1] Xếp loại nguy cấp.

[2] Thầy Võ Văn Lắng là cơ sở cách mạng và trực tiếp tham gia kháng chiến, được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, huy chương cao quý.

MỘT CỬA ĐIỆN TỬ

Liên kết website

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

Địa chỉ: số 267 - Đường Hùng Vương - Khu 1 - Thị trấn Gia Ray - Huyện Xuân Lộc - Tỉ​nh Đồng Nai 
ĐT:0613 871113 - Fax: 0613.871286 
Website:http://xuanloc.dongnai.gov.vn - http://xuanloc-dongnai.gov.vn
Email: ubnd-xl@dongnai.gov.vn​