Kỷ niệm 65 năm chiến thắng điện biên phủ (07/5/1954-07/5/2019)

 

Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/19154) đã kết thúc sự thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam. Chiến thắng này không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam mà còn là một kỳ tích trong lịch sử nhân loại ở thế kỷ XX. Chiến thắng lịch sử này là chiến thắng của cả dân tộc, chiến thắng của tâm hồn, khí phách, ý chí và bản lĩnh của con người Việt Nam. Trong chiến thắng ấy, công tác hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ là một nhân tố quyết định góp phần làm nên lịch sử

ghsghjh.jpg

Thời khắc lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ (07/5/1954)


Hạ quyết tâm đánh Pháp và chủ trương của Đảng ta về công tác hậu cần

Quyết định đánh chiếm, xây dựng Điện Biên Phủ trở thành một Tập đoàn cứ điểm mạnh tại đây đã cho thấy quyết tâm thôn tính nước Việt Nam cho kỳ được của Thực dân Pháp. Sau khi thất bại ở hầu khắp các chiến trường đồng thời nhằm cứu vãn bản kế hoạch Nava đang bị nghi ngờ về tính khả thi của nó thì lần này vùng rừng núi Tây Bắc hẻo lánh lại là mục tiêu tâm điểm, là nỗ lực cuối cùng, lớn nhất và mang tính chất quyết định cho toàn bộ cục diện cuộc chiến của cả hai bên. Với người Pháp, Điện Biên Phủ có những lợi thế rõ ràng về mặt quân sự và họ đã biến những lợi thế đó thành điểm mạnh trong quá trình xây dựng Tập đoàn cứ điểm này.

Trước tình hình đó, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định: Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng chỗ yếu cơ bản của địch là bị cô lập. Về phía ta, Chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng; đây sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay; diễn ra trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đường cơ động và công tác đảm bảo hậu cần rất khó khăn, thời gian chuẩn bị cho Chiến dịch gấp, nhưng chúng ta có thể khắc phục được. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến. Ban đầu, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương thực hiện phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” nên công tác hậu cần phải khẩn trương hoàn thành các bước chuẩn bị trong vòng 1 tháng (từ ngày 20/12/1953 đến 20/01/1954). Nhiệm vụ chủ yếu của công tác hậu cần lúc này là vận chuyển gạo, vũ khí, đạn dược… đến khu vực chiến đấu. Ta đã huy động lực lượng ngày đêm mở rộng tuyến đường Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ dài 89 km với hơn 100 cầu, cống được xây mới, bảo đảm cho đoàn xe vận tải cơ giới có thể vận chuyển liên tục.

Do địa bàn Chiến dịch xa hậu phương nên Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định xây dựng 2 tuyến cung cấp: Tuyến chiến dịch dài 350 km được chia thành 4 binh trạm, mỗi binh trạm gồm đầy đủ các lực lượng vận tải, kho, quân y, vừa bảo đảm cho bộ đội hành quân, vừa tiếp chuyển vật chất lên phía trước. Tuyến vận tải bộ kết hợp với đường sông từ Mường Luân vào Nà Sang bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu ở phía Nam Điện Biên Phủ. Để giữ bí mật cho lựu pháo 105mm xuất trận, lực lượng pháo binh và bộ binh còn mở đường kéo pháo bằng sức người vào tận trận địa.

Ngày 25/1/1954, Bộ Chỉ huy Mặt trận quyết định thay đổi kế hoạch và phương châm tác chiến, từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thời điểm này, tại mặt trận Điện Biên Phủ, quân số chiến đấu của ta lên đến 43.000 người, nhu cầu vật chất tăng gấp nhiều lần. Bộ máy hậu cần lên tới 3.200 người, dân công ở tuyến chiến dịch gồm hơn 30.000 người. Hậu cần Chiến dịch được bố trí thành 3 tuyến chính: Tuyến Sơn La - Tuần Giáo do đồng chí Đinh Đức Thiện phụ trách. Tuyến Tuần Giáo - Lai Châu do đồng chí Vũ Văn Đôn, Phó Cục trưởng Cục Vận tải phụ trách. Tuyến hậu cần hỏa tuyến trực tiếp bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu ở phía trước do đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Cục trưởng Cục Quân nhu trực tiếp phụ trách. Trên tuyến này, lực lượng vận tải chủ yếu là dân công với phương tiện là xe đạp thồ, có nhiệm vụ vận chuyển vật chất cho các đại đoàn bộ binh, trung đoàn pháo binh và các kho trung chuyển. Hai bệnh viện mặt trận cũng được thành lập trên cơ sở 2 đội điều trị 1 và 4. Ngoài ra, ta còn tổ chức 2 tuyến vận tải phục vụ các đơn vị chiến đấu ở Bắc và Nam Điện Biên Phủ. Sau hơn 1 tháng chuyển hướng chiến lược, ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tấn công cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch, toàn tuyến hậu cần bước vào trận chiến đấu cam go, ác liệt.

* Tất cả cho tiền tuyến

Chiến dịch Ðiện Biên Phủ việc bảo đảm hậu cần là một mặt trận hết sức nóng bỏng và quyết liệt. Phía Việt Nam chỉ có một trục đường bộ chủ yếu từ Sơn La vào Ðiện Biên, còn phía Pháp cũng chỉ có một phương thức tiếp tế duy nhất là đường không. Chính vì thế cả hai phía đều tập trung sức mạnh để khắc phục điểm yếu của mình, đánh vào điểm yếu của đối phương nhằm hạn chế, loại trừ khả năng tác chiến của đối phương. Theo Thủ tướng Pháp La-ni-en: "Ngay từ cuối tháng 12 năm 1953 trở đi, qua các báo cáo, Na-va dần dần nhận thấy những phương tiện của đối phương ngày càng được tăng cường cho mặt trận Tây Bắc, đặc biệt là những phương tiện vận tải... Các tin tức tình báo và quan sát bằng máy bay cho thấy có tới 75.000 "cu-li", làm công việc vận tải gạo và vũ khí... và hình như Việt Minh đã tổ chức được một đường giao thông từng chặng cho ô-tô qua lại..."[1].

"... Từ tháng 1-1954 trở đi, các cuộc oanh tạc các đường giao thông dẫn đến Ðiện Biên Phủ ngày càng ác liệt. Có trận dùng tới 39 máy bay B26, năm máy bay Pri Vát-tơ và 21 máy bay khu trục thuộc hải quân ném hàng trăm tấn bom... Lần đầu trong các trận oanh tạc, Mỹ cho Pháp sử dụng loại máy bay Pác-két (C119) để thả bom na-pan. Tướng Na-va còn điều một sĩ quan chuyên môn từ Pa-ri sang nghiên cứu làm mưa nhân tạo bằng chất i-ốt bạc để chặn đường tiếp tế mọi mặt của đối phương"[2]. Sau khi tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ bị tiến công (13/3/1954), theo yêu cầu của Pháp, "Hằng ngày có tới gần 100 máy bay vận tải DC3 của Mỹ hạ cánh xuống các sân bay ở Việt Nam chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Riêng ở Ðiện Biên Phủ hằng ngày có 30 máy bay vận tải hạng lớn C119 thả dù tiếp tế thêm 100 đến 150 tấn. Một cầu hàng không đã được Mỹ thiết lập từ Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ðài Loan, Phi-li-pin đến Bắc Bộ và từ các sân bay Cát Bi, Gia Lâm lên Ðiện Biên Phủ nhằm đáp ứng nhanh chóng những thứ quân Pháp cần, thậm chí cả những chiếc dù để thả hàng"[3]. Việc tiếp tế bằng đường không của Mỹ cho Ðiện Biên Phủ "đã tiêu thụ tới 82.296 chiếc dù... bao phủ cả chiến trường như tuyết rơi hoặc như một tấm vải liệm"[4]. Mỹ còn viện trợ cho Pháp loại bom mới Hen-li-phơ-lít trong chứa hàng nghìn lưỡi câu thật sắc nhằm sát thương đối phương".

Bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Ðiện Biên Phủ là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn nhưng cũng là một kỳ tích của dân tộc Việt Nam. Ðể giành toàn thắng cho chiến dịch, ta phải sử dụng một lực lượng đủ mạnh, “Riêng ở tuyến chiến đấu lúc cao nhất có tới hơn 87 nghìn người, gồm 53.830 quân và 33.300 dân công”[5]. Lượng gạo cần cho chiến dịch là 16 nghìn tấn. Muốn có số lượng gạo đó phải huy động từ hậu phương lên tuyến chiến dịch 25 nghìn tấn. Theo tổng kết của Tổng cục cung cấp, sau chiến dịch Tây Bắc (1952), dùng dân công gánh bộ chuyển 5.000 tấn gạo từ Yên Bái lên Cò Nòi (cách Ðiện Biên Phủ 220 km) chỉ còn 400 tấn. Nếu đi tiếp 40 km nữa đến Sơn La thì lượng gạo chỉ còn 200 tấn. Nghĩa là để có một kg gạo đến đích phải có 24 kg tiêu thụ và tổn thất dọc đường. Vậy ở chiến dịch này nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên, phải huy động từ hậu phương hơn 600 nghìn tấn gạo (khoảng một triệu tấn thóc). Giả sử có được số lương thực nói trên cũng không thể vận chuyển lên kịp vì đường quá xa, phải huy động một lực lượng dân công khổng lồ và nếu là thóc cũng không có cách nào xay giã kịp. Ðể giải bài toán hóc búa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã đề ra những giải pháp hết sức khoa học, cách mạng và sáng tạo. Ðó là động viên nhân dân Tây Bắc dốc sức đóng góp tại chỗ. Mặt khác đẩy mạnh việc làm đường, sửa đường, sử dụng tối đa số ô-tô vận tải hiện có, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ của nhân dân như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... phục vụ chiến dịch nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ và tổn thất dọc đường do phải đưa từ xa tới.

ghsghjh1.jpg

Từ tháng 11/1953 đến tháng 5/1954 khoảng 252.000 dân công cùng trên 22.000 xe đạp thồ

đã được huy động chở lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến dịch

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Toàn dân, toàn Ðảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện chiến dịch Ðiện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này"[6], nhân dân ta đã “đóng góp 261.453 dân công với 18.301.570 ngày công, 25.056 tấn gạo, 1.824 tấn thịt và thực phẩm khô, hàng nghìn tấn rau, 20.911 xe đạp thồ, 11.800 bè mảng... Riêng nhân dân Tây Bắc đã đóng góp được 7.360 tấn gạo, chiếm gần 50% lượng gạo sử dụng tại tuyến chiến đấu và 27% lượng gạo phải chuẩn bị cho chiến dịch”[7]. Gạo viện trợ của Trung Quốc là 1.700 tấn (do các nữ dân công Phú Thọ chở bằng mảng từ biên giới Việt - Trung vượt 102 thác ghềnh hiểm trở theo dòng Nậm Na về Lai Châu) chiếm 6,8% tổng số gạo huy động. Quân dân Lào chi viện 310 tấn. Các tỉnh hậu phương (chủ yếu là Thanh Hóa) đóng góp 15.742 tấn, chiếm 63% số gạo được huy động. Ðánh giá kỳ tích trên, Nhà báo Pháp Giuyn Roa nhận xét: "Ông Giáp đã thắng trong cuộc chiến đấu hậu cần... Bất chấp hàng nghìn tấn bom rải xuống các trục lộ giao thông, con đường tiếp vận cho quân đội nhân dân không bao giờ bị cắt đứt"[8]. Tướng Pháp Y.Gra khẳng định: "Cả dân tộc đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính cũng như dự kiến của Bộ tham mưu Pháp”[9]. Còn chính tướng Nava cũng phải thừa nhận: "Người ta chỉ còn biết thừa nhận nỗ lực phi thường đó và khâm phục trước hiệu quả mà Bộ Chỉ huy và Chính phủ (Việt Nam) đã biết cách tạo được"[10].

 

 ghsghjh12.jpg

Công binh dùng mảng vượt sông Nậm Na đưa hàng về Điện Biên Phủ.

Tổng số bè mảng sử dụng trong chiến dịch là 11.800 bè


Cùng với gạo, việc bảo đảm đạn dược, nhất là đạn pháo lớn trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và cũng là một kỳ tích của hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam. Số đạn pháo 105 mm đã tiêu thụ trong chiến dịch lên tới hơn 20.000 viên, trong đó có 11.715 viên chiến lợi phẩm thu được trong Chiến dịch Biên giới, 400 viên thu được trong chiến dịch Trung Lào. Bộ đội đoạt dù tiếp tế của địch ngay tại mặt trận được 5.000 viên. Các bạn Trung Quốc chi viện cho chiến dịch 3.600 viên, đó là cơ số đạn đi cùng 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam từ cuối năm 1953. Ngoài số lượng đạn và pháo 105 mm nói trên, Trung Quốc còn giúp trang bị cho Việt Nam một tiểu đoàn DKZ 75 mm và một tiểu đoàn hỏa tiễn H6 (Cachiusa). Hai đại đội thuộc hai tiểu đoàn trên đã kịp về nước tham gia đợt tổng công kích cuối cùng và đã sử dụng 1.136 viên đạn”[11].

Khi hạ quyết tâm mở Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xác định: Bảo đảm hậu cần là vấn đề khó khăn nhất. Nava khi quyết định "chấp nhận giao chiến ở Ðiện Biên Phủ" cũng đánh giá sai lầm rằng, đối phương không thể giải quyết được các khó khăn về hậu cần. Diễn biến chiến dịch đã khẳng định bảo đảm hậu cần đúng là vấn đề khó khăn nhất. Các cuốn sách của người nước ngoài viết về Ðiện Biên Phủ cũng nhấn mạnh điều đó và cho rằng, bất ngờ lớn nhất đối với Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp chính là ở chỗ quân dân Việt Nam đã khắc phục được khó khăn, dốc toàn lực bảo đảm cho chiến dịch giành toàn thắng. Nhà báo Pháp Giuyn Roa, khẳng định: "Không phải viện trợ Trung Quốc đã đánh bại tướng Nava mà chính là những chiếc xe đạp pơ-giô thồ 200, 300 kg hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm ni-lông. Cái đã đánh bại tướng Na-va không phải bởi các phương tiện mà là sự thông minh và ý chí của đối phương..."[12]. Còn tướng Ê-ly, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp khi diễn ra trận Ðiện Biên Phủ thừa nhận: "... Một lần nữa, kỹ thuật lại bị thua bởi những con người có tâm hồn và một lòng tin"[13].

65 năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam vẫn mãi là chiến thắng có một không hai trong lịch sử quân sự thế giới. Chiến thắng đó là hiện thân của sức mạnh đoàn kết dân tộc, hội tụ khí phách, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam, trong chiến thắng vinh quang ấy, lực lượng hậu cần quân đội và thế trận toàn dân đánh giặc đã đóng vai trò là một trong những nhân tố quyết định dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

[1] La-ni-en. Thảm họa Ðông Dương từ Ðiện Biên Phủ đến cuộc đánh đố ở Giơ-ne-vơ. Tài liệu dịch, Bản đánh máy, Tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr 126.

[2] Pôn Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc. Pari, 1964. Thư viện quân đội dịch tr.115-51.

[3] Pôn Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc. Pari, 1964. Thư viện quân đội dịch tr.115-51.

[4] Pôn Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc. Pari, 1964. Thư viện quân đội dịch tr.115-51.

[5] Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tập I (1944-1954) Nxb QÐND, H, 1995, tr 289.

 

[6] Văn kiện lịch sử Ðảng. Trường Nguyễn Ái Quốc xuất bản, 1964, tập VIII, tr 129.

[7] Công tác hậu cần chiến dịch Ðiện Biên Phủ... Sđd, tr 594.

[8] Giuyn Roa. Trận Ðiện Biên Phủ... Sđd, tr 608.

[9] Y-Gra Lịch sử cuộc chiến tranh Ðông Dương (1945-1954). Tài liệu dịch Thư viện quân đội.

[10] H.Na-va. Ðông Dương hấp hối... Sđd, tr 195.

[11] Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt-Trung. Nxb Ðà Nẵng, 1996, tr 39.

[12] Giuyn Roa. Trận Ðiện Biên Phủ... Sđd, tr 608.

[13] Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc Sđd, tr 163.

 

LÝ - BTGHU

MỘT CỬA ĐIỆN TỬ

Liên kết website

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

Địa chỉ: số 267 - Đường Hùng Vương - Khu 1 - Thị trấn Gia Ray - Huyện Xuân Lộc - Tỉ​nh Đồng Nai 
ĐT: 02513.871113 - Fax: 02513.871286 
Website:http://xuanloc.dongnai.gov.vn         
Email: ubnd-xl@dongnai.gov.vn​